Khám phá thuốc chữa sốt rét Artemisinin: ứng viên Nobel y học 2012

http://sgtt.vn/

Câu chuyện khoa học: Khám phá thuốc chữa sốt rét artemisinin: ứng viên nobel y học 2012

LTS: Thông thường phải đến tháng 10 các giải Nobel mới được công bố. Tuy nhiên, từ cuối năm qua đă có không ít đồn đoán rằng giải Nobel Y học năm nay sẽ trao cho người có công t́m ra artemisinin, loại thuốc chữa sốt rét đă cứu hàng triệu người khắp thế giới. Sự ra đời của loại thuốc này từ ngày đầu tiên cho đến khi được thế giới công nhận là một câu chuyện ly kỳ, v́ bắt nguồn từ cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam và có sự đóng góp của giới khoa học nước ta. Nhân ngày Sốt rét thế giới (25.4), xin điểm lại sự kiện y khoa này bằng loạt bài sau.

BÀI 1: Dự án tuyệt mật 523

SGTT.VN - Trong thế kỷ 21, sốt rét dường như bị che khuất bởi những dịch bệnh thời thượng như AIDS, SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, nhưng nếu biết rằng cho đến nay mỗi năm có khoảng 250 triệu người khắp thế giới mắc bệnh và hơn 1 triệu người chết v́ sốt rét, th́ bất kỳ ai cũng phải giật ḿnh.

 

 

Thanh hao hoa vàng, c̣n được gọi là thanh cao hoa vàng, thanh hao, thanh cao, thảo cao, ngải si, ngải hôi, ngải đắng... Ảnh: TL

 

Theo nhiều tài liệu, trong cuộc chiến chống Mỹ những năm 60 thế kỷ 20, bộ đội Việt Nam bị sốt rét tấn công rất dữ dội. GS Zhou Yiqing, nhà khoa học Trung Quốc từng sang Việt Nam thời đó để nghiên cứu về sốt rét, hồi tưởng: “Dọc đường ṃn Hồ Chí Minh là những trận mưa bom dữ dội của lực lượng Hoa Kỳ đổ xuống và tôi đă chứng kiến sốt rét làm tiêu hao một nửa sức mạnh chiến đấu của bộ đội Việt Nam, thậm chí giảm đến 90% sức mạnh một khi binh lính bị lên cơn sốt rét. Khi đó, ngoài chiến trường bộ đội thường nói: “Chúng tôi không sợ đế quốc Mỹ mà chỉ sợ bệnh sốt rét”, cho dù sự thật là căn bệnh này gây thiệt hại cho cả hai bên”. Sốt rét khủng khiếp như thế v́ theo giới y học, kư sinh trùng sốt rét đă kháng với chloroquine, loại thuốc chữa sốt rét phổ biến thời đó.

Trước t́nh h́nh này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đă nhờ Trung Quốc nghiên cứu t́m ra một loại thuốc chữa sốt rét hữu hiệu. Trong một bài viết đăng trên tạp chí Cell năm qua, hai tác giả Louis H. Miller và Xinzhuan Su của viện Dị ứng và bệnh nhiễm trùng quốc gia Hoa Kỳ, viết: “Chính phủ Trung Quốc đă họp tại Bắc Kinh ngày 23.5.1967 để t́m kiếm một loại thuốc chữa sốt rét hữu hiệu. Kết quả là một chương tŕnh nghiên cứu sốt rét tuyệt mật cấp quốc gia ra đời, gọi là Dự án 523, quy tụ hơn 500 nhà khoa học thuộc 60 pḥng thí nghiệm khác nhau”.

Là một thành viên trong nhóm nghiên cứu, GS Zhou Yiqing nói: “Chúng tôi được chia thành hai nhóm, một nhóm theo đuổi chế tạo thuốc từ các chất hoá học, một nhóm đi vào hướng y học cổ truyền. Trong nhóm sau, các chuyên gia xem xét một loạt những cây cỏ được lưu truyền trong dân gian hoặc ghi chép trong y văn cổ có tác dụng chữa sốt rét. Chúng tôi chia nhau đến tận các làng bản xa xôi để hỏi người dân về những bài thuốc bí mật chữa sốt bằng thảo dược. Cuối cùng cây thanh hao hoa vàng (tên Latinh là Artemisia annua) được “chọn mặt gửi vàng” để tập trung nghiên cứu sâu hơn”.

Ra đời trong vất vả và tranh căi

Tác dụng cắt sốt của thanh hao hoa vàng được ghi nhận trong những cổ mộ thời Hán và được dân gian nước này công nhận qua nhiều thế kỷ. Năm 340, lần đầu tiên cây thuốc này được Cát Hồng, một danh y thời Đông Tấn, mô tả có tác dụng chữa sốt rét.

Giải “Nobel Hoa Kỳ” cho GS Tu Youyou

 

 

Tháng 9.2011, GS Tu Youyou (ảnh) đă được quỹ Lasker của Mỹ trao tặng giải Nghiên cứu y học lâm sàng Lasker DeBakey. Đây là một phần thưởng danh giá được mệnh danh giải “Nobel Hoa Kỳ”, v́ từ ngày thành lập vào năm 1945 đến nay, 81 người đoạt giải này đă giành giải Nobel sau đó, trong đó có 29 người trong hai thập kỷ qua. Trong lời mở đầu bài diễn văn chúc mừng GS Tu, lúc này đă 81 tuổi, ban tổ chức nói: “Trong lịch sử y học lâm sàng, chúng ta không thường xuyên có được một khám phá đă làm dịu nỗi đau và tai hoạ cho hàng trăm triệu người cũng như cứu sống vô số người, đặc biệt là trẻ em, ở hơn 100 quốc gia”.

Trong các pḥng thí nghiệm của Dự án 523, chiết xuất của thanh hao hoa vàng tiêu diệt được kư sinh trùng sốt rét trên chuột, nhưng các nhà nghiên cứu muốn biết nhiều hơn: hoạt chất nào đă làm điều này? Trong tự nhiên, cây trồng nào có nhiều hoạt chất đó nhất? Liệu hoạt chất đó có băng qua hàng rào máu – năo để chữa trị được bệnh sốt rét thể năo? Hoạt chất có tác dụng dưới dạng toạ dược, thuốc uống và thuốc tiêm tĩnh mạch hay không?

Hàng loạt câu hỏi được đặt ra, và cũng như nhiều phát minh khác, phải sau 190 lần thất bại, cuối cùng nhóm của GS Tu Youyou mới biết rằng nhiệt độ cao đă phá huỷ các thành phần trong thanh hao hoa vàng, v́ thế cần chiết xuất với nhiệt độ thấp. Cần nói thêm, GS Tu Youyou là người được chỉ định đứng đầu Dự án 523 vào đầu năm 1969.

Ngày 4.10.1971, Tu và cộng sự đă chiết xuất được một thành phần trị sốt rét có hiệu quả 100% trên khỉ và chuột. Ngay lập tức, các nhà khoa học đi đến những vùng có dịch sốt rét hoành hành ở Nam Trung Quốc để thử nghiệm trên người. Kết quả cho thấy chất này tốt hơn chloroquine rất nhiều. Năm 1972, Tu báo cáo kết quả thử nghiệm trong một hội nghị quốc gia về Dự án 523 và được đánh giá là đi đúng hướng. Cũng trong năm này, nhóm của GS Tu nhận diện được một loại tinh thể không màu được xem là hoạt chất chính. Họ gọi nó là Qinghaosu, nghĩa là “thành phần cơ bản của Qinghao (thanh hao hoa vàng)” mà ngày nay thế giới gọi là artemisinin.

Nhưng dù GS Tu thành công, mọi chuyện cũng đi vào quên lăng v́ Dự án 523 là bí mật quốc gia. Artemisinin tinh chế được chuyển đến chiến trường Việt Nam để hỗ trợ bộ đội Việt Nam chống sốt rét. Mặt khác, lúc đó tại Trung Quốc vẫn c̣n là thời kỳ Cách mạng văn hoá (1966 – 1976), với hàng triệu trí thức bị xử tội và không có một kênh chính thống nào để công bố nghiên cứu.

Nhưng cho đến nay, người góp phần lớn nhất cho việc t́m ra artemisinin vẫn là một chủ đề tranh căi. Theo Zhiguo Xu và Hepeng Jia, sau khi nguồn tin GS Tu Youyou chiết xuất thành công hoạt chất trị sốt rét từ thanh hao hoa vàng lan đi, nhiều nhóm nghiên cứu độc lập khác thuộc Dự án 523 cho biết họ cũng thành công trong chiết xuất hoạt chất theo những cách khác nhau, thậm chí một số hoạt chất c̣n có độ tinh luyện cao hơn và hiệu quả điều trị tốt hơn Qinghaosu. Mặt khác, viện Y học cổ truyền Trung Quốc (nay là viện Hàn lâm khoa học y học Trung Quốc), nơi GS Tu làm việc, đă không thể chiết xuất đại trà artemisinin. Thế nhưng theo nhà thần kinh học Rao Yi, khoa trưởng trường Khoa học đời sống thuộc đại học Bắc Kinh và nghiên cứu lịch sử artemisinin trong nhiều năm, mặc dù nhiều nhà khoa học cũng góp phần nhất định trong khám phá, thế nhưng cách thức chiết xuất hoạt chất mà GS Tu đề xuất được xem là bước ngoặt quan trọng trong việc t́m ra artemisinin.

 

 

BÀI 2: Một nhà khoa học Anh kiên cường

SGTT.VN - GS Tu Youyou có công chiết xuất thành công hoạt chất trị sốt rét từ thanh hao hoa vàng. Tuy nhiên, nếu không có sự đóng góp của cộng đồng khoa học thế giới, nổi bật là GS Nick White, có lẽ vũ khí lợi hại để ngăn chặn thảm hoạ sốt rét này phải mất một thời gian lâu hơn mới được sử dụng chính thức.

Sinh ra để nghiên cứu sốt rét

 

Học sinh châu Phi trong ngày Chống sốt rét của châu lục này. Ảnh: TL

 

Bức xúc v́ sự thờ ơ với những bằng chứng rơ ràng về tác dụng điều trị sốt rét của artemisinin, GS Nick White – người gắn bó gần cả đời với bệnh sốt rét – có lần tự hỏi: “Nhiều nhà khoa học đă dùng chính cơ thể ḿnh để thực nghiệm, tại sao tôi không làm được?” Nick White muốn mắc bệnh sốt rét rồi dùng artemisinin tự chữa cho ḿnh!

Chào đời ở Anh, sau khi tốt nghiệp đại học London ngành dược vào năm 1971, Nick White tiếp tục nghiên cứu trong các lĩnh vực bệnh học, dược ứng dụng và điều trị. Năm 1979, cơ duyên đưa ông đến Thái Lan làm việc cho chương tŕnh nghiên cứu Y học nhiệt đới của đại học Oxford. Lúc này, ông và đồng nghiệp t́nh cờ đọc được một nghiên cứu khoa học của Trung Quốc về thanh hao hoa vàng trị sốt rét. Ṭ ṃ với loại thảo dược phương Đông, ông t́m hiểu rồi sau đó tiến hành nhiều nghiên cứu diện rộng và chi tiết trên bệnh nhân. Càng nghiên cứu, Nick White và đồng nghiệp càng thừa nhận rằng artemisinin hiệu quả hơn kư ninh trong điều trị sốt rét.

Tuy nhiên, artemisinin không phải không có nhược điểm. Người ta thấy rằng nếu chỉ sử dụng artemisinin dưới bảy ngày, nguy cơ tái phát sốt rét rất cao (50%) và lâu dài có thể dẫn đến lờn thuốc. Giải pháp đặt ra là phải kết hợp artemisinin với một loại thuốc khác. Nick White và đồng nghiệp đă thành công khi phối hợp artemisinin với mefloquine, trong khi thuốc đầu tác dụng nhanh và đào thải nhanh khỏi cơ thể th́ thuốc sau tác dụng chậm, giúp quét hết kư sinh trùng sốt rét c̣n lại trong máu.

Là giáo sư y học nhiệt đới của đại học Mahidol (Thái Lan) và đại học Oxford (Anh), Nick White quan tâm đến các bệnh nhiệt đới nặng như thương hàn, sốt xuất huyết, bạch hầu, viêm màng năo, nhưng quan tâm đặc biệt nhất của ông vẫn là sốt rét. Ông nghiên cứu nhiều về dược lâm sàng các thuốc chống sốt rét, sinh lư bệnh và điều trị sốt rét thể nặng, sốt rét ở thai phụ. Từ năm 1986 – 2001, ông trở thành giám đốc chương tŕnh nghiên cứu Y học nhiệt đới Oxford, ngành Y học nhiệt đới, đại học Mahidol – Thái Lan. Năm 1991, ông là một trong những người thành lập đơn vị nghiên cứu lâm sàng đại học Oxford và Wellcome Trust, nằm trong bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM. Hiện tại ông đứng đầu chương tŕnh nghiên cứu Đông Nam Á của Wellcome Trust, gồm bộ ba quốc gia Thái Lan, Việt Nam, Lào, đóng góp rất nhiều trong nghiên cứu điều trị và pḥng chống sốt rét.

 

Chiến đấu v́ người nghèo

Nick White luôn dành một vị trí quan trọng cho đối tượng người nghèo và trẻ em. Trong một công tŕnh nghiên cứu có tính bước ngoặt vào năm 2005, ông và cộng sự chứng minh artesunate – một dẫn xuất của artemisinin – có thể làm giảm tỷ lệ tử vong của sốt rét thể nặng đến hơn 1/3. Kết quả ngoạn mục này dẫn đến sự thay đổi trong phác đồ điều trị cho người lớn, nhưng lại không được ứng dụng cho trẻ em, đối tượng chiếm 1/5 số ca tử vong hàng năm v́ sốt rét. Ông lại tiếp tục làm việc. Tháng 11.2010, công tŕnh nghiên cứu của ông đăng trên Lancet cho thấy artemisinin cũng hiệu quả trong việc giảm tử vong ở trẻ em. Trong 5.000 trẻ em châu Phi bị sốt rét, một nửa dùng artesunate và một nửa dùng kư ninh, kết quả trong nhóm đầu có 230 trẻ tử vong, c̣n nhóm sau là 297 trẻ. Sự khác nhau ở đây là 22%, không ngoạn mục như ở người lớn (khác biệt 35%), nhưng điều đáng nói là trẻ không bị hôn mê nặng, co giật hay hạ đường huyết đe doạ cuộc sống. Nhờ bằng chứng này mà WHO đề nghị sử dụng artesunate truyền tĩnh mạch như loại thuốc hàng đầu trong điều trị sốt rét nặng của trẻ em.

 

 

Vinh quang và cống hiến

GS Nick White đă công bố trên 800 bài báo khoa học, chủ yếu về sốt rét. Ông nằm trong ban cố vấn quốc tế và ban biên tập của nhiều tạp chí khoa học nổi tiếng như Lancet, PLoS Medicine. Kể từ năm 2004, ông là đồng chủ tịch của uỷ ban chịu trách nhiệm phát triển hướng dẫn điều trị sốt rét của WHO. Năm 2001, ông được bầu là thành viên viện Hàn lâm khoa học y học và năm 2006 được bầu là thành viên hiệp hội Hoàng gia Anh. Năm 2010, sau khi nhận giải thưởng Gairdner v́ sức khoẻ toàn cầu kèm 100.000 đôla Canada, ông đă tặng toàn bộ số tiền cho một pḥng nghiên cứu lao ở biên giới Thái Lan – Myanmar.

Trước đó, năm 2006, WHO cũng thông qua hướng dẫn lâm sàng điều trị sốt rét bằng artemisinin dạng kết hợp. Đó là một chiến thắng trong cuộc chiến với sốt rét, nhưng theo Nick White lẽ ra nó phải được thông qua sớm hơn nữa. Tại sao có sự chậm trễ này? Theo ông v́ sốt rét là căn bệnh của người nghèo nên không ai vận động hành lang chính sách cho họ; mặt khác v́ artemesinin xuất phát ban đầu từ Trung Quốc chứ không phải từ những tập đoàn dược phẩm phương Tây, nên nhiều người nghi ngại nó.

Điều này cho thấy cuộc đời của các nhà nghiên cứu như Nick White thường phải đối mặt với một trong những thách thức: làm sao cho sự phát triển của khoa học nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách hay chính trị gia để tạo ra một sự thay đổi thực sự trong cuộc sống. Ông nói: “Tôi đánh giá ḿnh chỉ là một chính trị gia hạng xoàng. Điều tốt nhất mà tôi có thể làm là cung cấp bằng chứng – nói về nó và công bố nó để cho những chính trị gia giỏi có thể làm những điều đúng đắn”.

Mặc dù artemisinin đă thuyết phục được mọi người về hiệu quả trị sốt rét, cứu sống vô số người trong những năm qua, nhưng Nick White không cho đây là một “đột phá”. Ông nói với báo giới: “Đột phá có hay chăng chỉ là sự công nhận của những tổ chức thế giới về những loại thuốc chống sốt rét hiệu quả mà chúng ta có trong tay”.

Sự cẩn thận cũng có cơ sở v́ ông lo ngại thuốc sẽ dùng bừa băi, không đúng phác đồ và liều lượng có thể dẫn đến lờn thuốc. Một khía cạnh khác: ông muốn mọi người tập trung vào những biện pháp đang có trong tầm tay, thay v́ bỏ quên chúng. Ông nói: “Để tạo ra một tác động mạnh mẽ trên sốt rét, chúng ta cần 1 tỉ đôla Mỹ mỗi năm. Một nửa số này dùng để kiểm soát – dùng mùng tẩm thuốc và phun thuốc diệt muỗi. Một nửa kia dùng để nghiên cứu thuốc”.

 

Bài cuối: “Ông sốt rét”

SGTT.VN - Trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, tên tuổi GS.TS Trần Tịnh Hiền gắn liền với những dịch bệnh quan trọng như SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1. Tuy nhiên, không nhiều người biết rằng sốt rét mới là mối quan tâm lớn nhất đời ông. Có thể xem ông là nhà nghiên cứu hàng đầu về sốt rét ở nước ta, với xấp xỉ 100 công tŕnh nghiên cứu – là tác giả đầu tiên hoặc đồng tác giả – công bố trên các tạp chí thế giới.

 

 

Một chuyến thực địa nghiên cứu sốt rét của GS Hiền (giữa) tại Di Linh – Lâm Đồng. Ảnh: CTV

 

Từ những cái chết đau ḷng

Tôi hỏi GS.TS Trần Tịnh Hiền v́ sao ông lại gắn cuộc đời với lĩnh vực bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh sốt rét, ông trả lời: “Chỉ cần học sốt rét là học hết y khoa từ giải phẫu bệnh, sinh lư học, miễn dịch học, di truyền… cho đến điều trị và dự pḥng. Trong y học chỉ có cứu người, chứ đâu có bệnh sang hay hèn, chuyên khoa tiếng tăm hay tầm thường”.

Tuy thế, mọi chuyện dường như bắt đầu từ chữ “duyên”. Tháng 4.1975, ông đang là bác sĩ nội trú tại bệnh viện Chợ Quán (tên cũ của bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM). Những năm tháng đó nước ta đối mặt với dịch sốt rét nặng nề. Từ 1987 – 1990, mỗi năm cả nước có 900.000 – 1.200.000 ca sốt rét và 2.000 – 3.500 ca tử vong v́ bệnh này. Nguyên nhân là t́nh trạng di dân mạnh mẽ của người dân vào những vùng có sốt rét lưu hành, mạng lưới y tế suy yếu và các thuốc sốt rét thông thường không c̣n hiệu quả. Làm việc tại khoa cấp cứu bệnh viện Chợ Quán, thầy thuốc trẻ Trần Tịnh Hiền thường xuyên bị ám ảnh v́ những ca sốt rét ác tính tử vong, có ngày đến 6 – 7 ca. Bệnh sốt rét, một bài học đơn sơ trong giảng đường y khoa đă trở thành một thách thức quá to lớn.

Tuy nhiên, con đường đến với nghiên cứu sốt rét của GS Hiền chỉ thật sự khởi đầu vào năm 1987, khi BS Keith Arnold từ tổ chức Nghiên cứu Á châu của Roche (Roche Asian Research Foundation) ở Hong Kong đến thăm bệnh viện. Hai người không xa lạ với nhau v́ BS Arnold là thầy dạy đại học Y khoa Sài G̣n trước năm 1975.

Keith Arnold là chuyên gia dược động học. Năm 1980, ông t́m đến Trung Quốc gặp GS Lư Quốc Kiều (Li Guo Quao), một thành viên của Dự án 523, để hợp tác nghiên cứu sốt rét. Mỗi người có trong tay một vũ khí điều trị lợi hại: GS Kiều có artemisinin, BS Arnold có mefloquine. Hai năm sau, họ đứng tên chung trong một công tŕnh công bố trên tạp chí The Lancet. “V́ sao BS Arnold muốn nghiên cứu artemisinin tại Việt Nam?”, tôi hỏi GS Hiền. Ông trả lời: “Arnold muốn làm những nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá tác dụng của artemisinin trên bệnh nhân, nhưng các bác sĩ Trung Quốc lúc bấy giờ chỉ thích điều trị vài chục bệnh nhân rồi báo cáo nên ông đă trở lại Việt Nam”.

Một đam mê không tuổi

 

Vai tṛ người trong cuộc

Theo GS.TS Trần Tịnh Hiền, để thuốc sốt rét artemisinin có được một vị trí xứng đáng như ngày nay, bốn nhân vật đóng góp nhiều nhất cần phải được nêu tên: GS Tu Youyou – người chiết xuất thành công hoạt chất artemisinin, GS Lư Quốc Kiều – người đă chứng minh tác dụng artemisinin trên con người, BS Keith Arnold – người đưa artemisinin ra khỏi Trung Quốc để nghiên cứu một cách bài bản, và GS Nick White – người hoàn thiện lư thuyết ACT cũng như thuyết phục WHO sử dụng rộng răi phối hợp có artemisinin.

Một ngày giữa tháng tư này, như thường lệ, “ông sốt rét” lại rời khỏi nhà lúc tinh mơ, lên đường đi đến các điểm nghiên cứu sốt rét. Ở tuổi 62, ông vẫn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn để theo đuổi “t́nh yêu” với sốt rét. Những chuyến đi như thế có thể đi về trong ngày, nhưng đôi khi kéo dài vài ngày, di chuyển toàn bằng ôtô, đến một thôn, xă nào đó của các tỉnh B́nh Phước, Gia Lai, Lâm Đồng hoặc Khánh Hoà. Ông nói: “So với thời trước, nghiên cứu bây giờ khoẻ lắm rồi, tài liệu trên mạng quá nhiều, t́m thông tin ǵ cũng có. Tuy nhiên, người nghiên cứu cũng phải ra ngoài đi thực địa rất xa, v́ sốt rét bây giờ hầu như chỉ có ở những vùng xa xôi”. Không thể đếm xuể bao nhiêu chuyến nghiên cứu thực địa về sốt rét mà GS Hiền đă thực hiện từ ngày đầu cho đến nay, dễ cả trăm chuyến. Ông tâm sự: “Làm ǵ cũng phải có đam mê, nếu không có đam mê, gặp khó khăn là bỏ cuộc ngay”.

 

GS Hiền đă đúng khi đầu tư mấy thập kỷ để nghiên cứu lâm sàng artemisinin. Thuốc kỳ diệu thật. Làm việc vào những năm đó, TS Nguyễn Hoan Phú, phó khoa nhiễm Việt – Anh bệnh viện Bệnh nhiệt đới, kể: “So với các thuốc thông dụng, artemisinin mang lại kết quả bước đầu rất tốt. Nhờ nó mà nhiều bệnh nhân được cứu sống”. Diễn viên kiêm M.C Quyền Linh là một trường hợp. Một ngày nọ, bệnh sốt rét tái phát, anh vào bệnh viện Bệnh nhiệt đới cấp cứu trong t́nh trạng sốt cao, mê sảng. Anh nói: “Tôi nằm viện cả tháng trời. Bác sĩ cho biết tôi bị sốt rét ác tính. Nếu không có nỗ lực của y bác sĩ, không biết chuyện ǵ đă xảy ra cho tôi”. Sự tận tuỵ cứu người của nhân viên y tế là một lẽ, nhưng măi đến bây giờ anh mới biết ḿnh được cứu nhờ chương tŕnh hợp tác nghiên cứu về artemisinin.

Đóng góp cho đất nước

Những nghiên cứu ban đầu về tác dụng của artemisinin ở Việt Nam trong khoảng 1990 – 2000 là nền móng cho các nghiên cứu sau này. Liên tiếp những bài báo trên tạp chí Y học hoàng gia Anh hay The Lancet đă chứng minh thuốc điều trị tốt sốt rét cơn hay sốt rét ác tính, trên người lớn và ở trẻ em. Một thành công khác là các nhà nghiên cứu đă chứng minh artemisinin toạ dược có thể cứu sống bệnh nhân hôn mê do sốt rét falciparum. Dựa trên những bằng chứng này, hơn mười năm sau tổ chức Y tế thế giới (WHO) thực hiện thành công một nghiên cứu tương tự ở châu Phi, cứu sống hàng ngàn trẻ em bị sốt rét.

Từ ư tưởng phối hợp điều trị của BS Keith Arnold, GS Hiền đă thực hiện những nghiên cứu chứng minh hiệu quả dài ngày của phối hợp artemisinin + mefloquine. Đây là nền tảng cho lư thuyết về ACT (Artemisinin combination therapy), phối hợp artemisinin với các loại thuốc có thời gian tác dụng kéo dài để chống kháng thuốc, mà GS Nick White phát triển và được WHO chấp nhận.

Ngoài hợp tác với BS Arnold, GS Hiền và nhóm nghiên cứu ở Việt Nam hợp tác với GS Lư Quốc Kiều “tinh luyện” thuốc CV8, từ phối hợp bốn chất thành phối hợp hai chất đơn giản mà hiệu quả là dyhydroartemisinin-piperaquine (Arterakin) thay cho phối hợp dùng mefloquine phải nhập khẩu và mắc tiền. Arterakin hiện nay là chủ lực của chương tŕnh pḥng chống sốt rét Việt Nam, hoàn toàn sản xuất trong nước. Với những đóng góp của GS Hiền và cộng sự, số tử vong v́ sốt rét nặng ở Việt Nam giảm thật ngoạn mục: từ 4.646 ca (năm 1991) chỉ c̣n 25 ca (năm 2011)!

Phan Sơn

 

 

Ghi nhận của cộng đồng quốc tế

GS.TS Trần Tịnh Hiền được cộng đồng khoa học thế giới đánh giá là một trong những chuyên gia hàng đầu về bệnh sốt rét. Từ năm 2000, ông là thành viên của nhóm nghiên cứu artemisinin hay phát triển thuốc sốt rét mới (MMV) của WHO, và nhiều lần được mời đi tập huấn sốt rét cho các quốc gia Tây Thái B́nh Dương. Nhờ những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là sốt rét, năm 2010 ông được hiệp hội Y học nhiệt đới và vệ sinh của hoàng gia Anh trao tặng huân chương danh giá Mackay. Năm qua, ông được bầu làm thành viên danh dự của hiệp hội Y học nhiệt đới Hoa Kỳ. Cùng năm đó, uỷ ban Y học châu Âu đă cho phép sử dụng thuốc chữa sốt rét Eurartesim® (dihydroartemisinin – piperaquine) với những bằng chứng thuyết phục về hiệu quả ở Việt Nam do GS Hiền cung cấp.