Website của những bác sĩ đa khoa tốt nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1977
(VƠ KHÔI BỬU do thực hiện)

Homepage  

Neu khong doc dung dau tieng Viet, click VIEW, click CHARACTER encoding, select Western (ISO-8859-1)

 

Giới thiệu đôi nét về Đại học Y Hà Nội

  H́nh chụp khoảng năm 1930

Cách đây một thế kỷ, vào năm 1902, chính quyền bảo hộ Pháp quyết định thành lập trường Đại học Y dược Đông Dương tại Hà Nội, một trường đại học đầu tiên của bán đảo Đông Dương theo mô h́nh phương Tây. Hiệu trưởng đầu tiên là một thầy thuốc nổi tiếng của nền Y học thế giới mà lại rất gắn bó với đất nước Việt Nam: Bác sĩ Yersin. Từ năm 1902 cho đến năm 1945, các Hiệu trưởng Nhà trường đều là người Pháp và trường nằm dưới sự điều hành của trường Đại học Paris, ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Pháp. Sự phát triển của trường dẫn đến h́nh thành hai bệnh viện thực hành đó là Bệnh viện Phủ Doăn và Bệnh viện Bạch Mai. Cũng trong giai đoạn này, trường đă đào tạo nên các thế hệ bác sĩ tiền bối có nhiều công sức dựng xây cho nền Y học Việt Nam: Vũ Đ́nh Tụng, Tôn Thất Tùng, Hoàng Đ́nh Cầu, Phạm Gia Triệu, Đặng Văn Chung, Đinh Văn Thắng, Đỗ Xuân Hợp, Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Thúc Tùng. Nguyễn Hữu.... Giai đoạn này có một người Việt Nam duy nhất được phong hàm Giáo sư, đó là Giáo sư Hồ Đắc Di, sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Paris về nước.

Năm 1945, hoà chung với khí thế hào hùng của Cách mạng tháng Tám, ba tháng sau khi Nhà nước VNDCCH ra đời, ngày 15 tháng 11 năm 1945, Trường Đại học Y dược Hà Nội khai giáng năm học đầu tiên của một quốc gia độc lập, nhân dịp đó trường đă được vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đến thăm. Nhưng chỉ một thời gian ngắn ngủi của nền độc lập non trẻ, thực dân pháp quay trở lại xâm lược. Ngày 19-12-1946, từ pháo đài Láng, tiếng súng phát lệnh mở màn cho cuộc toàn quốc kháng chiến, thày tṛ trường Y tham gia phục vu các mặt trận của Hà Nội. Năm 1947, tại núi rừng Việt Bắc, với một đội ngũ cán bộ ít ỏi nhưng giàu ḷng yêu nước, thàỵ tṛ Trường Đại học Y đă bắt tay xây dựng Trường Đại học Y khoa kháng chiến, giảng dạy bằng tiếng Việt. Trong 8 năm kháng chiến chống Pháp với phương châm tự lực cánh sinh, học giảng đường, đi chiến dịch, quay về bổ túc, rồi tiếp tục đi chiến dịch, Trường ĐH Y kháng chiến đă cung cấp đầy đủ số lượng bác sĩ cho các mặt trận và các vùng tự do. Những bác sĩ tốt nghiệp Nhà trường giai đoạn này, sau này đều trở thành lực lượng ṇng cốt của nền y học Việt Nam như Vũ Triệu An, Phạm Khuê, Vi Huyền Trác, Nguyễn Bửu Triều...

Năm 1954, hoà cùng với đoàn người chiến thắng, Trường Đại học Y kháng chiến trở về Hà Nội, cùng với các bác sĩ nội thành tiếp tục xây dựng Trường Đại học Y Dược Hà Nội trong giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc xă hội chủ nghĩa. Sau 8 năm kháng chiến chống Pháp, nền y tế và y học Việt Nam có một khoảng cách khá xa với thế giới. Thày tṛ Nhà trường đă phấn đấy rút ngắn khoảng cách này. Những phát triển của các chuyên ngành tim mạch, sốt rét, cắt gan... gắn liền với các tên tuổi Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Đặng Văn Ngữ, Giáo sư Đặng Văn Chung... nên Y học thế giới bắt đầu biết đến nền Y học non trẻ của Việt Nam.

Năm 1965, khi không lực Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc, mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn bộ lănh thổ nước ta, cùng với cả nước chi viện cho miền Nam, thày tṛ Trường Y lại lên đường, có mắt trên mọi miền đất nước, từ Bắc chí Nam, từ hải đảo cho tới miền núi cao, từ các chiến trường miền Nam cho đến chiến trường Lào. Nhiều người đă năm lại chiến trường như Giáo sư Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ... Để đảm bảo đào tạo, một lần nữa Nhà trường lại sơ tán lên núi rừng Thái Nguyên, sinh viên từ năm thứ nhất và năm thứ hai học khoa học cơ bản và y học cơ sở tại đây, sau đó về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng thực tập lâm sàng.

Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Trường Đại học Y Hà Nội một mặt củng cố để ổn định phát triển, một mặt tiếp tục chi viện nguồn lực con người cho các trường đại học phía Nam như Đại học Y Huế, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, Y khoa Cần Thơ, Y khoa Thái Nguyên. Những hiệu trưởng hoặc khoa trưởng của các trường này đều nguyên là cán bộ, sinh viên của Trường Đại học Y Hà Nội như Giáo sư Nguyễn Đ́nh Hối, Giáo sư Vơ Phụng, Thạc sĩ Phạm Hùng Lực...

Từ đầu những năm 90, hoà chung với công cuộc đổi mới đất nước, Trường Đại học Y Hà Nội đă vận động theo hai hướng: phát triển những mũi nhọn của y học chuyên sâu như tim mạch, ghép tạng... một mặt phát triển những nghiên cứu của sức khoẻ cộng đồng, mở rộng hợp rác đa phương với hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới như Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Australia, Indonesia, Nhật Bản... tại trường Đại học Y Hà Nội nhiều hội nghị khoa học quốc tế đă được tổ chức như Hội nghị Tim mạch, Hội nghị Thận - Tiết niệu, Hội nghị Chấn thương chỉnh h́nh .... Qua các hội nghị này, uy tín của Nhà trường ngày càng được nâng lên. Nhiều hợp tác nghiên cứu quốc tế đă được mở ra. Bên cạnh việc đào tạo và gửi các bác sĩ trẻ của Việt Nam sang nước ngoài học tập, hàng năm Nhà trường c̣n nhận thêm trên dưới 50 sinh viên nước ngoài từ Pháp, Đức, Thuỵ Sĩ, Australia, Anh... đến thực tập tại các bệnh viện Hà Nội.

Gần 100 năm phát triển, Trường Đại học Y khoa Hà Nội luôn gắn bó với Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Không ít quốc gia trên thế giới đă biết đến trường Đại học Y Hà Nội trong quá khứ, trong hiện tại, và chắc chắn cả trong tương lai. Đến nay Nhà trường đă đào tạo trên 17.000 bác sĩ chính qui, khoảng 10 ngàn học viên sau đại học. Đi đến bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam ta đều thấy có những dấu ấn của Trường Đại học Y Hà Nội. Và điều đó là niềm tự hào của thầy và tṛ Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Cố PGS. VS Tôn Thất Bách
Nguyên Hiệu trưởng trường Đại Học Y Hà nôi (1993-2003)

Nguồn trích: http://www.hmu.edu.vn