TRƯỜNG Y KHOA SÀI G̉N

 
 

 
 

 

Trường Y Khoa Đại Học Sài G̣n, trên đại lộ Hồng Bàng
 

Trường Y Khoa Đại Học Sài G̣n được thành lập vào năm 1946 tại Sài G̣n, trong thời gian của chiến tranh Đệ Nhị Thế Chiến, với tên trường là Faculté de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Section de Saigon, thời đó được coi là như một chi nhánh của Trường Thuốc Hà Nội ( Ecole de Médecine et de Pharmacie de Plein Exercise de l'Indochine, gọi tắt là Ecole de Médecine de Hanoi ). Cho tới thập niên 1940, VN chỉ có một trường Y duy nhất đó là YK Đại Học Hà Nội.


 

 

Trường Y Khoa Đại Học Hà Nội, năm 1930, trên đường Lê Thánh Tôn
 


 

Trường Y Khoa Đại Học Sài G̣n được đặt tại số 28 đường Testard ( sau đổi tên là đường Trần Quư Cáp, nay là đường Vơ Văn Tần ). Nơi đó là biệt thự của bà BS Henriette Bùi, con của BS Bùi Quang Chiêu. Trường là một biệt thự hai tầng: tầng trên làm văn pḥng Khoa Trưởng, pḥng Hội Đồng Giáo Sư và cũng là nơi các sinh viên tŕnh luận án - tầng dưới dành cho văn pḥng hành chánh, pḥng hội và thư viện - đằng sau là khu vườn trống, mấy năm sau xây thêm giảng đường. Hai giảng đường lớn được xây hai bên và 4 giảng đường nhỏ ở giữa xếp theo h́nh chữ U.


 

Khoa trưởng của cả hai trường thời bấy giờ là Giáo Sư Huard, Giáo Sư Daléas làm Phó khoa trưởng kiêm phụ trách trường YKĐHSG nên cũng có thể coi là vị khoa trưởng đầu tiên của trường YKĐHSG.


 

Niên khóa đầu 1946-1947 chỉ có khoảng 12 người cho tất cả các lớp. Niên khóa 1947-1948 có 32 người. Niên khóa 1948-1949 tăng lên tới trên 80 người. Các lớp học được giảng dạy tại trường và tại các bệnh viện. Giáo sư của trường lúc ban đầu chỉ có 2 người, nên đă dùng khả năng giảng huấn của các BS Quân y Pháp và các BS VN ở SG, niên khóa 1948-1949 có tới 10 GS trong đó có GS Massias (Nội Khoa) ở Hà Nội vào và GS Trần Quang Đệ (Ngoại Khoa) từ Pháp về.


 

 
GS Phạm Biểu Tâm
 

Chương tŕnh giảng dạy theo khuôn chương tŕnh của y khoa Pháp, dài 6 năm. Hai năm đầu gồm các môn căn bản: cơ thể học, mô học, sinh hóa, sinh lư, và triệu chứng học. Năm thứ ba và năm thứ tư gồm các môn: cơ thể bệnh lư và bệnh lư nội ngoại khoa, và thực tập tại các BV về nội khoa và ngoại khoa. Năm thứ năm và thứ sáu gồm các môn bệnh lư chuyên môn như nhi khoa, sản phụ khoa, và trị liệu pháp, và thực tập tại các BV. Cuối năm thứ sáu thi Bệnh lư và chuẩn bị luận án.


 

 
GS Đào Hữu Anh
 

Lư thuyết và thực tập cho các môn căn bản được giảng dạy tại nhiều nơi như: Vi Kư sinh trùng: Viện Pasteur, Sinh Hóa: pḥng thí nghiệm BV Đô Thành, Mô học và Cơ thể bệnh lư: quân y viện Coste ( BV của quân đội Pháp, sau này thành trường nữ trung học Trưng Vương), Cơ thể học: BV Chợ Rẫy. Các BV thực tập gồm: BV Grall, BV Chợ Rẫy (Nội, Ngoại, Tai Mũi Họng, Nhăn khoa), BV Đô Thành (Nội, Ngoại, Cấp Cứu, Tai Mũi Họng), BV Chợ Quán (Tâm Thần, Truyền Nhiễm), Bảo sanh viện Từ Dũ, Viện Bài Trừ Hoa Liễu.


GS Đặng Văn Chiếu
 


 

Khóa YK ra trường đầu tiên vào năm 1947, có 7 sinh viên tŕnh luận án đó là các BS: Pierre Boucheron, Trần Đ́nh Đệ, Lê Văn Hùng, Trần Minh Mẫn, A. Saint Mieux, Lê Văn Thuấn và Nguyễn Văn Thọ. Số BS ra trường hằng năm cho cả hai trường SG và HN tính đến năm 1954 như sau: 1947: 7-4 ; 1948: 10-9 ; 1949: 5-7 ; 1950: 4-14 ; 1951: 4-1 ; 1952: 13-54 ; 1953: 3-5 ; 1954: 11-13. Số BS ra trường nhiều ít do ảnh hưởng của chiến tranh Đông Dương và t́nh h́nh chính trị bất ổn của thời đó.


 

 

GS Trần Ngọc Ninh
 


 

Năm 1954, hiệp định Genève được kư kết, đất nước tạm chia đôi bởi vĩ tuyến 17, và dân chúng hai miền có 3 tháng thời gian để di chuyển qua miền ḿnh lựa chọn, ra Bắc hoặc vào Nam. Theo đó, đa số các GS trong Ban Giảng Huấn và 2/3 sinh viên YK đă vào Nam, do vậy số nhân viên giảng huấn và SV của trường YKĐHSG đă tăng lên gấp bội.


 

Do yêu cầu, một số cơ sở Y khoa được xây cất thêm tại Sài G̣n.

BV B́nh Dân được hoàn thành năm 1955, do sự đóng góp của các nhà hảo tâm, đă được trao cho trường ĐHYKSG để trở thành khu Giải Phẩu B do GS Phạm Biểu Tâm điều hành cùng với một số nhân viên của BV Phủ Doăn ở Hà Nội vào. Sau đó BV được trang bị thêm cho các khu Nhăn khoa, Tai Mũi Họng, Niệu khoa, B́ phu và Ung thư.

BV Chợ Rẫy được đổi là khu Giải Phẩu A do GS Trần Quang Đệ điều hành.

BV Nhi Đồng được xây cất và hoàn thành năm 1956 với sự giúp đở của cơ quan UNESCO.

Cơ Thể Học Viện trên đường Trần Hoàng Quân ( nay là đường Nguyễn Chí Thanh ) do GS Nguyễn Hữu điều hành từ năm 1956.

BV Nguyễn Văn Học được mở ra năm 1967, gồm các bộ môn Nội, Ngoại, Sản, Nhi do Ban giảng huấn trường YKĐHSG đảm nhiệm.


 


GS Hoàng Tiến Bảo
Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa Sài G̣n, được khởi đầu xây cất năm 1963 và hoàn tất năm 1966, với tổn phí 2 triệu rưởi mỹ kim, một nửa do chính phủ VN đài thọ, một nửa do chính phủ Mỹ viện trợ. Khu đất của trường YKSG trước khi xây cất là Ṭa Bố, tọa lạc trên đường Hồng Bàng. Trường gồm hai cơ cấu kiến trúc lớn 4 tầng, nối liền bằng một hành lang, tạo thành h́nh chử H. Tầng trệt một bên là văn pḥng trường Y, một bên là văn pḥng trường Nha, cùng với một số giảng đường nhỏ và pḥng họp. Các tầng trên dành cho các bộ môn: Cơ thể học, Sinh lư học, Cơ thể bệnh lư, Giải phẫu thực nghiệm, Mô học, Vi kư sinh trùng, Sinh hóa học. Một Đại giảng đường 300 chỗ, một thư viện, và một quán ăn cho SV nằm ở giửa hai cơ cấu trên. Quán ăn do các nữ tu ḍng Mến Thánh Giá điều hành và đă cung cấp cho SV những bữa ăn ngon lành với giá rẻ. Trường YKĐHSG chính thức dọn vào vào tháng 6 năm 1966.


GS Đỗ Thị Nhuận
 


 

Trước năm 1945, VN chỉ có một đại học duy nhất đó là trường Đại Học Đông Dương (Université de l'Indochine) tại Hà Nội do chính quyền bảo hộ Pháp điều hành. Một thỏa hiệp văn hóa giữa Pháp và VN kư ngày 30/12/1949 đổi tên trường lại là trường Đại học Hà Nội, do hai chính phủ Pháp Việt điều hành chung. Trường Đại học Hà Nội có hai trung tâm, một ở HN, một ở SG. Sau năm 1954, tại SG hai trung tâm sát nhập thành một bao gồm các phân khoa: Luật, Y Dược, Văn Khoa, Khoa học, Kiến trúc. Đến 1955, trường Đại học Hà Nội trở thành Đại học Quốc Gia VN, do chính phủ VN điều hành. Tới năm 1957, khi trường Đại học Huế mở cửa th́ Đại học Quốc Gia đổi tên là Đại học Sài G̣n. Đại học Y Dược được chia làm hai phân khoa riêng biệt, Y và Dược, vào tháng 8 năm 1961. Năm 1963, bộ môn khẩu xoang tách rời khỏi Y khoa và trở thành Đại học Nha khoa. Khoa trưởng Dược khoa đầu tiên là GS Nguyễn Vĩnh Niên, và Khoa trưởng Nha khoa là GS Trịnh Văn Tuất.


GS Bùi Duy Tâm
 


 

Niên khóa 1954-1955, năm Y1 và Y2 có khoảng 70-80 SV cho mỗi lớp. SV đại học chỉ cần có một trong những bằng dự bị như PCB ( Physique, Chimie, Biologie ), SPCN ( Sciences, Physiques, Chimiques et Naturelles ) là có thể ghi danh vào học YK, hồi thời đó chưa có chương tŕnh thi tuyển vào YK.

Số SV ghi danh nhập học YK ngày càng gia tăng, nên kể từ năm 1966, một kỳ thi tuyển hằng năm được tổ chức để chọn một số nhất định là 200 SV vào năm thứ nhất YK.

GS Liễu Thanh Tâm
 

Thành phần GS đă có thêm: GS Phạm Biểu Tâm (Ngoại Khoa), GS Nguyễn Hữu (Cơ Thể Học), GS Trịnh Văn Tuất (Hàm Miệng), GS Nguyễn Đ́nh Cát (Nhăn Khoa), GS Auguste Rivoalen (Nội Khoa), GS Montagné (Sản Phụ Khoa), sau đó GS Trần Ngọc Ninh (Chỉnh Trực) từ Pháp về năm 1954, GS Trần Vỹ (Sinh Lư Học) năm 1956, GS Trần Đ́nh Đệ (Sản Phụ Khoa) năm 1956.


Sau một vài năm, các GS Pháp bắt đầu rời khỏi ban giảng huấn. Khởi đầu là việc GS Massias từ nhiệm, và GS Phạm Biểu Tâm lên thay thế năm 1955. GS Phạm Biểu Tâm là vị Khoa Trưởng VN đầu tiên của trường YKSG.
 

GS Nguyễn Ngọc Giệp
 

Năm 1962 là năm cuối cùng mà bằng BS YK của trường YKĐHSG c̣n được công nhận tại Pháp.

 

Các vị Khoa Trưởng trường YKĐHSG lần lượt như sau:

1946-1950: GS Daléas

1950-1955: GS Charles Massias

1955-1967: GS Phạm Biểu Tâm

1967-1969: GS Ngô Gia Hy

1969-1970: GS Phạm Tấn Tước

1970-1971: GS Đào Hữu Anh

1971-1974: GS Đặng Văn Chiếu

1974-1975: GS Vũ Quí Đài

1975-


 


 

GS Trần Xuân Ninh
 


 

Qua sự khuyến khích và giúp đở của các GS Pháp, một số GS YKĐHSG đă qua Pháp tu nghiệp và trở về với bằng Thạc sĩ, từ năm 1960-1963, nhận thấy có: GS Nguyễn Huy Can (Cơ Thể Bệnh Lư), GS Lê Xuân Chất (Huyết Học), GS Đào Đức Hoành (Ung Thư), GS Bùi Quốc Hương (Thần Kinh), GS Nguyễn Ngọc Huy (Tim Mạch), GS Ngô Gia Hy (Niệu Khoa), GS Nguyễn Văn Út (Da Liễu), GS Trần Anh (Nhân Chủng Học). Trước đó có GS Nguyễn Thế Minh (Nội Khoa).


 

Sau đó năm 1965-1966, từ Mỹ về trường gồm có các vị: GS Đào Hữu Anh (Cơ Thể Bệnh Lư), GS Hoàng Tiến Bảo (Chỉnh Trực), GS Vũ Quí Đài (Vi Trùng Học), GS Nguyễn Khắc Minh (Gây mê), GS Đỗ Thị Nhuận (Vi Trùng Học), GS Bùi Duy Tâm (Sinh Hóa Học), GS Nguyễn Ngọc Giệp (Sản Phụ Khoa).


 

 
 

Y khoa Sài G̣n
 


 


 

Tiếp theo, nhận thấy có : BS Trịnh Thị Minh Hà (Nhi Khoa, Mỹ), BS Trần Kiêm Thục (Tiêu Hóa, Pháp), BS Trần Thế Nghiệp (Quang Tuyến, Pháp), BS Liễu Thanh Tâm (Quang Tuyến, Pháp), BS Lê Dư Khương (Giải Phẫu, Đức), BS Phó Bá Đa (Giải Phẫu, Mỹ). Nâng tổng số nhân viên giảng huấn lên 91 người cho niên khóa 1967-1968, với 16 GS thực thụ, 7 GS diễn giảng, 27 giảng sư, và 41 giảng nghiệm viên.


 

 
 

 

Y khoa Sài G̣n 
 


 

Ngoài công việc giảng dạy, các nhân viên giảng huấn YKĐHSG c̣n tích cực tham gia khảo cứu. Rất nhiều bài báo cáo khoa học đă được đăng trên các báo y khoa quốc nội và quốc ngoại, những bài này đă được liệt kê trong hai cuốn sách Travaux de Recherche Scientifique I và II của GS Nguyễn Hữu và BS Nguyễn Văn Nguyên. Ngoài ra một tài liệu quí giá khác cũng nên nêu ra là cuốn Bibliographie des Thèses của GS Nguyễn Đức Nguyên, sách ghi lại đầy đủ tất cả các luận án đệ tŕnh tại hai trường YK SG và Hà nội từ khi thành lập tới năm 1972. Trường cũng chủ trương một tờ báo y khoa tên là Acta Medica Vietnamica, xuất bản mỗi tam cá nguyệt, số báo đầu tiên ra mắt vào năm 1957, chủ nhiệm là GS Phạm Biểu Tâm. Báo được tiếp tục xuất bản cho tới năm 1975 th́ ngưng hoạt động.


 

 
 

 

Y khoa Sài G̣n   
 


 

Có thể nói tổng số BS ra trường tại YKSG từ năm 1947 đến 1975 là khoảng 2380 người; trong số đó có Cầu Hai Gai trong hội đoàn NT/CVA6067.


 

 
 

Y khoa Sài G̣n 67-74 
 


 

Một con số rất khiêm tốn nhưng đă đóng góp một phần rất lớn cho ngành Y Tế tại Việt Nam.


 


 

 
 

Y khoa Sài G̣n nha sĩ
 


 


 


 

 
 

Y khoa Sài G̣n dược sĩ
 


 


 


 

 
 

Y khoa Sài G̣n 
 


 


 


 

 
 

Y khoa Huế
 

 

Tóm lược lịch sử

Y Khoa Đại Học Hà Nội (1902-1954) và

Y Khoa Đại Học Sài G̣n (1947-1975)

GS Đào Hữu Anh

Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do Kỳ IV, năm 2002, có chủ đề là “Y Tế Việt Nam qua gịng thời gian”, một chủ đề rộng lớn, bao gồm tất cả những quá tŕnh hoạt động và những thành quả trong quá khứ, hiện tại và có thể cả trong tương lai của ba ngành Y, Nha, Dược tại hải ngoại. Dựa theo chủ đề, và trong phạm vi giới hạn của bài này, chúng tôi cố gắng tŕnh bầy một khía cạnh nhỏ trong nhiều khía cạnh của chủ đề, khía cạnh lịch sử liên quan tới hai trường Đại học Y Khoa Hà Nội và Sài G̣n, nơi mà một số lớn các y sĩ Việt Nam tại hải ngoại đă được đào tạo. 


 

Khi nhắc tới lịch sử trường Y Khoa Đại Học Sài G̣n (YKDHS), thực khó có thể không nói tới Y Khoa Đại Học Hà Nội (YKDHH), v́ trên thực tế, hai trường có một mối liên hệ mật thiết không thể tách rời. Những năm 1954 và 1975 được lựa chọn như những dứt điểm chúng ta không thể nào quên được, v́ đây là những con mốc thời gian đánh dấu những diễn biến chính trị quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng tới cả hai trường. Những ǵ đă xẩy ra ở trường Hà Nội sau năm 1954 và ở trường Sài G̣n sau năm 1975, v́ nhiều lư do, đều không được ghi chép trong bài này. 


 

Y Khoa Đại Học Hà Nội.

Trường YKDHH được thành lập vào năm 1902. Năm 1947, sau khi quân Nhật đầu hàng và người Pháp trở lại bán đảo Đông Dương, một trường Y Khoa thứ nh́ được thành lập tại Sài G̣n để đáp ứng nhu cầu của số sinh viên càng ngày càng đông ở miền nam Việt Nam. Trước năm 1947, những sinh viên miền Nam muốn học y khoa sẽ phải hoặc ra Hà Nội hoặc sang Pháp, rầy rà và tốn kém. Cho tới năm 1954, cuộc chia rẽ đất nước Việt Nam ra làm hai phần đă kéo theo một cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu người dân từ miền bắc vào nam. Trong số này có một số đông sinh viên y khoa và phần lớn ban giảng huấn của YKDHH. Trường Y khoa Sài G̣n đă mở rộng cửa thâu nhận số sinh viên từ miền bắc tới và trở thành YKDHS. 


Sau đây chúng ta sẽ lần lượt coi xét những dữ kiện lịch sử của YKDHH trước, rồi tới YKDHS và sau cùng, thêm một phần báo cáo kết quả hoạt động của Hội Đồng Khoa lưu vong YKDHS tại Mỹ. 

Y Khoa Đại Học Hà Nội. Theo cuốn sách “L’Ecole de Plein Exercice de Médecine et de Pharmacie” do nha Học Chánh của chính phủ bảo hộ Đông Dương xuất bản năm 1931, th́ trường YKDHH được thành lập năm 1902 do nghị định kư ngày 8 tháng giêng năm 1902 của toàn quyền Paul Doumer. Người Pháp sau khi lập chính phủ bảo hộ cai trị toàn cơi Việt Nam đă có ư định thành lập một trường y khoa, không ngoài mục đích bành trướng ảnh hưởng văn hóa Pháp và thu phục nhân tâm dân bản xứ. Cơ sở giáo dục y khoa này trước định đặt ở Sài G̣n, nhưng sau một thời gian nghiên cứu, lại chuyển ra Hà Nội.Trường có tên là Trường Y Khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine). Vị Khoa trưởng đầu tiên không phải ai xa lạ mà chính là Bác sĩ Alexandre Yersin, người đă t́m ra vi trùng bịnh dịch hạch Yersinia pestis. Ngoài BS Yersin ra c̣n có hai Giáo Sư người Pháp là BS Leroy des Barres và BS Degorce, nguyên cựu nội trú các bịnh viện Paris, phụ trách giảng giạy hai môn Nội và Ngoại khoa. BS Yersin cùng với 4 phụ giảng khác lo giạy môn Sinh vật học và Khoa học căn bản. Cứ nh́n vào tầm vóc chuyên môn của những vị được đề cử lo việc giảng huấn, ta thấy chính phủ bảo hộ Pháp cũng khá chú trọng về trường Y Khoa Đông Dương. Tưởng cũng nên ghi nhận thêm là BS Yersin chỉ đảm nhiệm chức vụ Khoa trưởng có 2 năm, v́ ông đă trở lại hoạt động tại viện Pasteur Nha Trang vào năm 1904, nơi mà ông yêu thích làm việc cho tới năm 1943 khi ông viên tịch. 


 

Tới đây tôi xin phép mở một dấu ngoặc để kể thêm một vài chi tiết lư thú về việc khám phá vi trùng dịch hạch của BS Yersin. Theo những điều được ghi chép lại th́ sự khám phá này, cũng như một số khá nhiều những khám phá quan trọng trong khoa học, được thành h́nh nhờ một sự may mắn ngẫu nhiên. Nguyên là năm 1894 có một trận dịch hạch hoành hành ở Hong Kong và Phúc Kiến bên Trung Hoa với rất nhiều người chết. BS Yersin được cử sang Hong Kong để nghiên cứu. Trong khi đó th́ chính phủ Nhật Bản cũng cho một phái đoàn lớn với đầy đủ phương tiện sang Trung Hoa để t́m hiểu, cầm đầu là GS Kitasato, một nhà vi trùng học nổi danh. V́ không được sự ủng hộ của chính quyền Anh ở Hong Kong, và nhất là v́ sự cạnh tranh bất hợp tác của phái đoàn Nhật, ông phải ở trọ trong một căn nhà tranh nhỏ bé, không có đủ tiện nghi cho cuộc khảo cứu. Không có lồng ấp (incubateur), ông phải treo những ống cấy vi trùng ra ngoài hàng hiên để lấy sức ấm của ánh nắng mặt trời. May mắn sao vi trùng bịnh dịch hạch, khi dược cấy lần đầu, lại thích mọc ở nhiệt độ thấp 27-28 độ là nhiệt độ ngoài trời, chứ không ưa nhiệt độ cao 37 độ của những lồng ấp, v́ ở nhiệt độ này các vi trùng khác loại mọc mau lẹ hơn, chèn ép làm cho vi trùng dịch hạch không mọc nổi. Trong khi đó, đoàn nghiên cứu Nhật Bản, v́ xài lồng ấp, nên chỉ cấy được một loại vi trùng Gram tính dương sau này được đặt tên là Streptococcus pneumoniae, không có liên hệ ǵ với bịnh dịch hạch. 


Năm đầu có 105 sinh viên dự kỳ thi tuyển và số được nhận vô học là 29 người. Chương tŕnh học dài 4 năm, và các sinh viên ra trường được cấp bằng Y sĩ phụ tá (Médecin auxiliaire). Khóa ra trường đầu tiên vào năm 1907 gồm có 5 người được bổ đi làm việc tại các tỉnh nhỏ. Theo như tài liệu của GS Trần Ngọc Ninh th́ thủ khoa khóa đầu tiên là BS Nguyễn Văn Thinh. BS Thinh sau này qua Pháp học thêm và đă đậu bằng Bác sĩ Y Khoa Pháp. Ông trở về nước cho tới năm 1946, ông lên làm Thủ tướng đầu tiên cho chế độ Nam kỳ Tự trị và ít tháng sau th́ tự vẫn chết. Trong những năm sau, số sinh viên ra trường tăng dần, cho tới năm 1920 th́ lên tới 25 người. Tưởng cũng nên ghi nhận là các Y sĩ xuất thân từ trường Y khoa Đông Dương đă tham dự tích cực trong cuộc Đại chiến Thế giới thứ nhất với quân đội Pháp, trực tiếp  điều trị các thương binh trong Bịnh viện Đông Dương ở Marseilles. 


Trong những năm kế tiếp, trường tiếp tục mở rộng và được chấn chỉnh thêm. Năm 1914 mở thêm phân khoa Dược. Vào năm 1923, toàn quyền Albert Sarraut đă thực hiện những cải tổ quan trọng: trường mang tên chính thức là Trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp Y Dược Khoa (Ecole de Plein Exercice de Médecine et de Pharmacie). Các môn học Vật lư, Hóa và Tự Nhiên (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles) gọi tắt theo tiếng Pháp là PCN được bắt đầu giảng giạy cho các sinh viên mới. Đây là bước khởi đầu cho những năm tiền y khoa sau này. Và cũng bắt đầu từ năm 1923, trường có hai chi nhánh rơ rệt: một chi nhánh Pháp dành cho những sinh viên có bằng Tú Tài Pháp, khi ra trường sẽ có bằng Bác sĩ Y Khoa Pháp, và một chi nhánh bản xứ dành cho những sinh viên có bằng Tú Tài bản xứ, khi ra trường có bằng Bác sĩ Y Khoa Đông Dương (Médecin Indochinois). Trên lư thuyết có sự phân chia rơ rệt, nhưng trên thực tế sinh viên của hai chi nhánh đều học lư thuyết và thực tập chung trong một trường sở duy nhất. Tuy nhiên sự phân chia này dù sao cũng đă gây ra một sự cách biệt xă hội khá tế nhị, và chi nhánh Y khoa bản xứ dần dần thu hẹp lại và sau cùng th́ băi bỏ hẳn vào thập niên 30. 

Về vấn đề trường sở, trường Y Khoa Hà Nội lúc đầu được đặt tại vùng ấp Thái Hà cách trung tâm thành phố chừng 5 cây số. Tuy nhiên, v́ khu này có khá nhiều ao hồ, śnh lầy, đầy rẫy ruồi muỗi nên chẳng bao lâu, các sinh viên y khoa cũng như các bịnh nhân đều bị bịnh sốt rét hành hạ, và trường phải rời về gần trung tâm thành phố. Tới cuối thập niên 20 th́ trường chính thức dọn về cơ sở tọa lạc trên đường Bobillot (nay là đường Lê Thánh Tôn), gần viện Pasteur và các nhà thương thực tập chính. Cơ thể Học viện, nơi hoạt động thường xuyên của GS Nguyễn Hữu và các Phụ tá Cơ thể học cũng được xây cất trong thời điểm này. Học viện cho tới nay vẫn c̣n và vẫn được sử dụng làm nơi thực tập mổ xẻ cho các sinh viên y khoa. 


Việc trường Y Khoa Hà Nội dọn về cơ sở chính thức trên đường Lê Thánh Tôn c̣n có một quan trọng tinh thần rất đáng kể v́ trường đă trở thành trường Đại Học Y Khoa (Faculté de Médecine), và cùng với phân khoa Luật và phân khoa Khoa Học, đă trở thành một trong ba thành viên ṇng cốt của trường Đại Học Đông Dương trong thập niên 30. Năm 1936 là năm trường chính thức mang tên Đại Học Y Khoa, với 4 Giáo sư Thạc sĩ ở Pháp về tăng cường ban giảng huấn: GS Charles Massias (Nội khoa), GS Jacques Mayer May (Giải phẫu), GS Pierre Huard (Cơ thể học) và GS Bernard Joyeux (Mô học & Cơ thể Bịnh lư).


Từ khi thành lập năm 1902 cho tới năm 1954, trường liên tục hoạt động. Chỉ riêng niên khóa 1945-1946, khi quân đội Nhật Bản đầu hàng kéo theo những biến chuyển chính trị lịch sử, trường phải ngưng hoạt động trong một thời gian. Kết quả là năm 1946 không có sinh viên nào tŕnh luận án ra trường. Khi trường hoạt động trở lại năm 1946, tôi được các bậc đàn anh kể lại cho nghe là GS Khoa trưởng Huard phải đi kiếm từng sinh viên để giục và giúp cho họ có điều kiện tiếp tục đi học. 
 

Tổng số Y sĩ đào tạo tại YKDHH được bao nhiêu không thấy ghi chép trong sách vở và thống kê quốc gia. V́ vậy, muốn biết được tổng số này, ta cần phân tích quá tŕnh của YKDHH ra từng giai đoạn, số sinh viên của mỗi giai đoạn được ghi chép từ những tài liệu rải rác, rồi sau cùng sẽ được tổng kết. 


Trước hết là số Y sĩ phụ tá được đào tạo từ năm 1902 cho tới năm 1923 là năm mà chương tŕnh Bác sĩ Y khoa được áp dụng. Theo như tài liệu của nha Học Chính Đông Dương, th́ con số này cũng không nhiều cho lắm. Số sinh viên thay đổi từ 6 người lúc ban đầu cho tới 25 người năm 1920, trung b́nh vào khoảng 15 người một lớp. Trong 23 năm, từ 1907 là năm khóa Y sĩ phụ tá đầu tiên ra trường cho tới 1930 là năm chương tŕnh này bị thay thế, tất cả có 294 sinh viên ra trường với bằng cấp Y sĩ phụ tá.

Từ năm 1930 cho tới 1935, số Bác sĩ ra trường không được ghi rơ. Tuy nhiên, tài liệu của Nha Học Chính cho thấy là trong niên khóa 1930-1931 có 19 sinh viên ghi danh theo học chương trính Bác sĩ Y khoa. Như vậy trong 5 năm (1930 cho tới 1935) với số sinh viên chừng 20 người một lớp, có khoảng chừng 100 sinh viên đă theo học và tốt nghiệp với bằng Bác sĩ. 


Từ 1935 trở đi th́ số luận án Y khoa Bác sĩ của trường YKDHH được ghi chép khá đầy đủ. Theo cuốn “Bibliographie des Thèses de Médecine” của GS Nguyễn Đức Nguyên, từ năm 1935 cho tới 1954, có tất cả 254 luận án đă được tŕnh và chấp thuận.

Như vậy ta có thể kết luận là từ năm 1902 cho tới năm 1954, trường YKDHH đă đào tạo được tất cả 648 người bao gồm cả Y sĩ phụ tá, Y sĩ Đông Dương và Bác sĩ Y Khoa. Con số này so với sĩ số ra trường trong những thập niên 60 và 70 th́ không lớn là bao, nhưng các chuyên viên Y khoa kể trên đă đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc canh tân nền y khoa quốc gia và đáp ứng nhu cầu y tế của đồng bào trong nước. 


Thành phần ban giảng huấn của YKDHH trong khoảng 1950-1954 được ghi nhận như sau: 

- Khoa trưởng: GS Pierre Huard.

- Khoa Giải Phẫu: GS Huard, GS Phạm Biểu Tâm, GS Nguyễn Hữu, BS Trần Ngọc Ninh, BS Trần Anh, BS Đào Đức Hoành

- Khoa Nội Thương: GS Blondel, GS Đặng Văn Chung, GS Rivoalen, BS Lê Khắc Quảng

- Khoa Cơ Thể Học: GS Huard, GS Nguyễn Hữu, BS Trần Anh, BS Nguyễn Ngọc Kính 

- Khoa Sản Phụ: GS Montagné, BS Đinh Văn Thắng

- Khoa Tai Mũi Họng: GS Ollier

- Khoa Nhăn: GS Keller, BS Nguyễn Đ́nh Cát, BS Nguyễn Văn Nguyên

- Khoa B́ phu và Hoa liễu: GS Grenier Bolley

- Khoa Mô học & Bịnh lư học: GS Vũ Công Ḥe

- Khoa Sinh Lư: GS Rivoalen

 

 

                                                                            

GS Vũ Công Ḥe            GS Đặng Văn Chung

 

Cùng với nhiều Phụ giảng, các Giáo sư trên đây dành toàn thời gian trong công việc giảng giạy cho một số sinh viên thay đổi từ năm, sáu chục người cho hai năm đầu (năm Y 1 và Y 2) cho tới không quá ba chục người cho năm chót (Y 6). GS Huard là người rất có công trong việc tích cực dẫn dắt một số giáo sư  Việt qua Pháp thi Thạc sĩ như GS Phạm Biểu Tâm (Giải phẫu), GS Đặng Văn Chung (Nội khoa), GS Vũ Công Ḥe (Cơ thể bịnh lư), GS Trịnh Văn Tuất (Nha Khẩu Xoang) và GS Nguyễn Hữu (Cơ thể học).


Các cơ sở thực tập gồm hai Bịnh Viện chính là BV Bạch Mai và BV Phủ Doăn. BV Bạch Mai là một bịnh viện đa khoa lớn trên 700 giường, gồm các khu Nội khoa, Sản khoa, bịnh Truyền nhiễm, và Tai Mũi Họng. BV Phủ Doăn (c̣n có tên là BV Yersin) chuyên về Giải Phẫu và Cấp cứu nhưng cũng có một khu Sản khoa. Ngoài ra c̣n Bịnh viện Mắt, là nơi chuyên trị các bịnh mắt, nhất là bịnh lông quặm (trachoma). Tưởng cũng nên ghi nhận là tuy không có các bịnh viện dành riêng cho trẻ em và phụ khoa nhưng các bịnh viện lớn như Bạch Mai và Phủ Doăn đều có những trại riêng dành cho phụ nữ và trẻ em. Ngoài Cơ thể Học viện là nơi các sinh viên y khoa dành một số thời gian khá lớn trong hai năm đầu để học Cơ thể học, Viện Pasteur được tích cực sử dụng trong công cuộc giảng giạy lư thuyết cũng như thực tâp cho những bộ môn Vi trùng học và Kư sinh trùng. Môn Mô học được giảng giạy tại Viện Quang tuyến. Kẻ viết bài này c̣n nhớ rơ những buổi thực tập Mô học mỗi chiều thứ ba, vào khoảng hai giờ. Giờ này là giờ buồn ngủ, đạp xe đạp lên viện Quang tuyến trong những ngày lập đông lạnh lẽo u ám, lại phải qua một tiệm phở với những ly cà phê thơm nhức mũi, nên thường thường số sinh viên trong tiệm phở đông hơn là số trong pḥng thực tập. 


 

Y Khoa Đại Học Sài G̣n.


Như trên ta đă thấy trường Y Khoa Sài G̣n được thành lập năm 1947 như là một chi nhánh của YKDHH để đáp ứng nhu cầu của các sinh viên y khoa miền Nam. Cho tới năm 1954 khi phần lớn sinh viên và ban giảng huấn của YKDHH di tản vào Nam th́ trường chính thức trở thành YKDHS.

 
 

Bệnh viện Chợ Rẫy, 1970 
 

 

Trụ sở chính được đặt tại số 28 Trần Quư Cáp, gồm một căn nhà cao hai tầng dùng làm văn pḥng, thư viện và pḥng họp các giáo sư, và 3 căn nhà ngang dùng làm nơi giảng giạy lư thuyết. 

Thành phần ban giảng huấn gồm có:

- Khoa trưởng: GS Charles Massias

- Khoa Nội thương: GS Massias, GS Rivoalen, BS Nguyễn Ngọc Huy, BS Phạm Tấn Tước, BS Trần Lữ Y

- Khoa Giải Phẫu: GS Trần Quang Đệ, GS Phạm Biểu Tâm, GS Nguyễn Hữu, GS Trịnh Văn Tuất, BS Đặng Văn Chiếu, BS Hoàng Tiến Bảo

- Khoa Sản Phụ: GS Trần Đ́nh Đệ, BS Nguyễn Văn Hồng, BS Hồ Trung Dung

- Khoa Nhăn: GS Nguyễn Đ́nh Cát, BS Nguyễn Ngọc Kính

- Khoa Tai Mũi Họng: GS Tissié

- Khoa Mô Học & Bịnh lư học: GS Joyeux, BS Nguyễn Lưu Viên


Trong ṿng 4-5 năm, các Giáo sư người Pháp dần dần trở về Pháp và ảnh hưởng Pháp trong ngành y khoa cũng dần dần suy giảm. Tưởng cũng nên ghi nhận là 1962 là năm cuối cùng mà văn bằng Y khoa Bác sĩ của trường YKDHS c̣n được công nhận tại Pháp. 

 

Các cơ sở thực tập gồm có:

         Bịnh viện Chợ Rẫy: Nội Ngoại Khoa, Tai Mũi Họng

         Bịnh viện B́nh Dân: Ngoại Khoa, Nhăn khoa, Bịnh Ngoài Da, Niệu Khoa, Ung thư

         Bịnh viện Nhi Đồng: Nhi Khoa

         Bịnh viện Từ Dũ: Sản Phụ Khoa

         Bịnh viện Hồng Bàng: bịnh Phổi và Lao

         Bịnh viện Chợ Quán: bịnh Truyền nhiễm & Thần kinh

         Bịnh viện Saigon: Tai Mũi Họng, Cấp cứu

         Bịnh viện Nguyễn Văn Học (khai trương 1967): Nội Ngoại khoa, Sản phụ


Các pḥng thực tập khoa học căn bản nằm rải rác trong thành phố như Cơ thể Học viện (Cơ thể học), BV Saig̣n (Hóa học), Viện Pasteur (Vi trùng và Kư sinh trùng). Một cơ sở riêng biệt tọa lạc gần Cơ thể Học viện được dùng làm nơi thực tập cho các môn Sinh lư, Cơ thể Bịnh lư và Mô học. Chương tŕnh học dài 6 năm và một năm tiền y khoa (PCB hoặc SPCN). Số sinh viên trung b́nh từ 100 tới 120 người một lớp. Sĩ số này tăng dần cho tới năm 1962 th́ trường quyết định giới hạn số sinh viên ở mức 200 người cho năm đầu và các sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển. Sinh viên Y khoa và Dược khoa sử dụng chung trường ốc tại số 28 Trần Quư Cáp cho tới năm 1961 khi trường Đại học Dược Khoa thành lập với GS Nguyễn Vĩnh Niên là Khoa trưởng. Phân khoa Nha Khoa, trước là bộ môn Hàm Miệng trong YKDHS, trở thành Đại học Nha Khoa niên khóa 1964-1965 với GS Trịnh Văn Tuất là Khoa trưởng.


Nếu ta thấy trường YKDHH có một gịng lịch sử tương đối êm đềm, ít biến chuyển th́ nhiều diễn tiến lịch sử quan trọng đă xẩy ra cho YKDHS. Năm 1955, GS Massias về Pháp và GS Phạm Biểu Tâm lên thay thế, đánh dấu lần đầu tiên trường có một Khoa trưởng người Việt Nam. Thành phần giảng huấn, tương đối nhỏ lúc ban đầu, dần dần được tăng cường trong những năm 1954-1956 với :

- GS Trần Ngọc Ninh (Chỉnh Trực, Giải Phẫu Nhi Đồng) 

- GS Trần Vỹ (Sinh lư học)

và trong những năm 1960-1963 với các Giáo sư:

- GS Nguyễn Huy Can (Cơ Thể Bịnh lư)

- GS Lê Xuân Chất (Huyết Học)

- GS Đào Đức Hoành (Ung Thư)

- GS Bùi Quốc Hương (Thần kinh)

- GS Nguyễn Ngọc Huy (Tim Học)

- GS Ngô Gia Hy (Niệu Khoa)

- GS Nguyễn Văn Út (Ngoài Da & Hoa liễu).


Trong nỗ lực tăng cường ban giảng huấn, một số nhân viên giảng huấn trẻ đă được tuyển dụng và gửi qua Pháp theo học các lớp huấn luyện hậu đại học trong những năm 1958-1960. Tuy nhiên một số lớn các vị này đă quyết định ở lại Pháp quốc sau khi huấn luyện xong làm chương tŕnh bị gián đoạn.


Từ sau cuộc di tản của YKDHH từ Bắc vào Nam năm 1954, chính phủ Mỹ bắt đầu gia tăng viện trợ cho miền Nam Việt Nam. Chương tŕnh giáo dục y khoa được chú ư tới và cơ quan USAID được chỉ định nghiên cứu, xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa cùng một bịnh viện thực tập 500 giường. Theo cuốn sách “Saigon Medical School: an Experiment in International Medical Education” của BS W. Ruhe th́ việc xây cất trung tâm này tốn hết 2,500,000 mỹ kim, một số tiền khá lớn khi mà một ly cà phê giá 5 xu và một gallon xăng giá 20 xu. Một nửa ngân khoản này do USAID đài thọ và một nửa do ngân sách quốc gia Việt Nam đài thọ. Cùng với việc xây cất trung tâm Y khoa, một số nhân viên giảng huấn mới tuyển dụng được gửi đi Mỹ tu nghiệp, ngắn hạn và dài hạn. Tới năm 1965 những nhân viên này trở về tăng cường ban giảng huấn, trong số ta thấy có: 

          BS Đào Hữu Anh (Cơ thể Bịnh lư), 

          BS Hoàng Tiến Bảo (Chỉnh trực), 

          BS Vũ Quí Đài (Vi trùng học), 

          BS Nguyễn Khắc Minh (Gây mê),

          BS Đỗ Thị Nhuận (Kư sinh trùng học), 

          BS Bùi Duy Tâm (Sinh hóa học). 


 

Đồng thời, cũng trong thời điểm này, ta thấy có một số chuyên viên từ các nước tiếp tục trở về phục vụ tại YKDHS như :

          BS Nguyễn Thế Minh (Nội Khoa, Pháp), 

          BS Trần Kiêm Thục (Bịnh Tiêu Hóa, Pháp), 

          BS Trần Thế Nghiệp (Quang Tuyến, Pháp), 

          BS Lê Dư Khương (Giải Phẫu, Đức), 

          BS Liễu Thanh Tâm (Quang Tuyến, Pháp)

          BS Phó Bá Đa (Giải Phẫu, Mỹ)

          BS Nguyễn Ngọc Giệp (Sản-Phụ Khoa, Mỹ). 

Tổng số nhân viên giảng huấn cho niên khóa 1967-68 được ghi nhận là 91 người, với 16 Giáo sư Thực thụ, 7 Giáo sư Diễn giảng, 27 Giảng sư và 41 Giảng nghiệm viên.


 

Năm 1966, trường YKDHS chính thức dọn về Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tọa lạc trên đại lộ Hồng Bàng (nay là An Dương Vương). Trung tâm bao gồm cả hai trường Y và Nha, đầy đủ với đại giảng đường, thư viện, và các khu Khoa học Căn bản cùng với các pḥng thí nghiệm. Dự án xây cất bịnh viện thực tập 500 giường bị lui lại cho tới năm 1972 khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam th́ hủy bỏ. 


 

Niên khóa 1967-68 là niên khóa đầu tiên tại Trung Tâm Y Khoa mới, đă đánh dấu một sự cộng tác của chính phủ Mỹ trong công cuộc giáo dục y khoa Việt Nam. Qua sự dàn xếp của cơ quan USAID, Hiêp Hội Y Khoa Mỹ (American Medical Association) đă mang các bộ môn chuyên khoa của nhiều trường y khoa Mỹ sang Sài G̣n để trực tiếp yểm trợ cho các bộ môn của trường YKDHS. Một trong những bộ môn đầu tiên tiếp nhận sự yểm trợ này là môn Sinh lư học với GS Lilienfield, một GS Mỹ nổi danh. V́ t́nh trạng cúp điện liên miên ở Sài G̣n trong những năm 67-68 nên một trong những lớp của GS Lilienfield đă được tiến hành ngoài trời, bên bờ hồ cạnh thư viện với sinh viên ngồi trên cỏ và bảng đen dựng bên cây me già. GS Lilienfield có nói với tôi sau lớp học là chưa bao giờ ông đă được tham dự một buổi giảng giạy lạ lùng và thích thú như vậy. Sự yểm trợ trực tiếp giữa các bộ môn chuyên khoa Mỹ và Việt Nam qua sự dàn xếp của hiệp hội AMA kể trên đă được tiếp tục cho tới năm 1975 và đă giúp ích rất nhiều cho công cuộc tăng cường nhân viên giảng huấn qua những chuyến tu nghiệp ngắn và dài hạn, cũng như trợ giúp sách vở cho thư viện và dụng cụ cho các phân khu. Nhiều sách y khoa của Mỹ đă được phóng ảnh (có sự cho phép của nhà xuất bản) để bán cho sinh viên với một giá rẻ. Đồng thời với việc giảng giạy các bộ môn khoa học, môn ngoại ngữ cũng được chú trọng: các sinh viên y khoa phải lựa hoặc Anh văn hoặc Pháp văn làm ngoại ngữ chính và phải trau dồi ngoại ngữ này qua những lớp học hàng tuần.


Kể từ khi Trung Tâm Y Khoa khai trương cho tới năm 1973, t́nh h́nh chính trị tại miền Nam Việt Nam bỗng trở nên sôi động. Không niên học nào mà không bị gián đoạn bởi những biến cố như biến cố Tết Mậu Thân, bởi những cuộc biểu t́nh, xuống đường của sinh viên, và hai cuộc thảm sát các cố Giáo sư Trần Anh và Lê Minh Trí.

 

Ban lănh đạo trường YKDHS cũng phải chịu nhận nhiều thay đổi. Khởi đầu là vụ ngưng chức GS Phạm Biểu Tâm tháng giêng 1967. Một ủy ban 5 người được chỉ định để điều hành công việc cho tới tháng năm 1967, cuộc bầu cử Khoa trưởng đầu tiên với các Giảng sư được phép bầu đă tiến hành và GS Ngô Gia Hy cùng GS Vũ Thị Thoa được bầu lên nắm giữ chức vụ Khoa trưởng và Phó Khoa trưởng. Tháng giêng 1968, biến cố Tết Mậu Thân xẩy ra, các sinh viên phải đi thực tập quân sự và niên học bị tạm gián đoạn. Tháng mười một 1968, một cuộc bầu cử Khoa trưởng thứ hai được tổ chức và các GS Phạm Tấn Tước, Đào Hữu Anh và Nguyễn Phước Đại được bầu vào các chức vụ Khoa trưởng và Phó Khoa trưởng. Tháng giêng 1969, trong khi t́nh h́nh chính trị tạm lắng đọng, th́ GS Lê Minh Trí bị thảm sát, và hai tháng sau đó, tới GS Trần Anh. Các cuộc biểu t́nh sinh viên bắt đầu tái diễn, chống kỳ thi tuyển Nội trú và GS Phạm Tấn Tước từ chức tháng 12 năm 1970. GS Đào Hữu Anh lên giữ chức Quyền Khoa trưởng cho tới tháng giêng 1972 th́ GS Đặng Văn Chiếu được bầu lên chức vụ Khoa trưởng. Chương tŕnh giảng giạy tại YKDHS được tiếp tục trôi chẩy trong mấy năm sau chỉ trừ một cuộc công kích hồi tháng tư 1972.


 

Sau đây là danh sách các vị Khoa Trưởng của YKDHS từ 1954 tới 1975:

- 1954-1955: GS Charles Massias

- 1955-1967: GS Phạm Biểu Tâm

- 1967-1969: GS Ngô Gia Hy

- 1969-1970: GS Phạm Tấn Tước

- 1970-1971: GS Đào Hữu Anh

- 1972-1974: GS Đặng Văn Chiếu

- 1974-1975: GS Vũ Quí Đài


 

Như trên ta đă thấy từ 1962, số sinh viên y khoa được tuyển vào học năm thứ nhất được giới hạn là 200 người. Chương tŕnh học dài 6 năm và khi ra trường phải tŕnh bày một luận án. Theo tài liệu của GS Nguyễn Đức Nguyên, th́ tổng số luận án được tŕnh và chấp thuận tại YKDHS từ năm 1947 cho tới năm 1972 là 1779 luận án. Số luận án từ 1972 tới 1975 là bao nhiêu không rơ v́ không có ghi chép trong tài liệu nào. Tuy nhiên với sĩ số 200 người một lớp, ta có thể đoán phỏng là có vào khoảng trên dưới 600 luận án đă được tŕnh trong thời kỳ đó. Như vậy, tổng số luận án ra trường của YKDHS từ 1947 cho tới 1975 là vào khoảng 2380 luận án.


 


 

Những sự kiện đă xẩy ra từ 1975 tại quốc ngoại.


 

Sau sự sụp đổ của chính quyền miền Nam Việt Nam hồi tháng tư năm 1975, một số đông dân Việt Nam trên dưới 2 triệu người đă lần lượt bỏ nước ra đi, trong số này có khá nhiều các bác sĩ và sinh viên y khoa. Họ định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên phần lớn đă chọn Mỹ quốc làm nơi sinh sống.

Một trong những mối ưu tư đầu tiên của người dân di tản là làm sao có thể sinh tồn trong một xă hội mới hoàn toàn xa lạ. Đối với các bác sĩ và sinh viên y khoa th́ mối ưu tư đó chính là làm sao để có thể hoạt động trở lại trong ngành y tế.

Với sự yểm trợ đắc lực của cơ quan USAID và hiệp hội AMA, một Hội Đồng Khoa lưu vong (Faculty Council-in-Exile) của YKDHS được thành lập tại Mỹ với mục tiêu chính là làm sao có thể giúp cho các sinh viên y khoa được tiếp tục học y khoa ở Mỹ, và các bác sĩ Việt Nam có thể hành nghề tại các tiểu bang Mỹ.

Thành phần Hội Đồng Khoa gồm:

- GS Đặng Văn Chiếu: Giải Phẫu.

- GS Đào Hữu Anh: Khoa Học Căn Bản.

- GS Phan Đ́nh Tuân: Nhi Khoa.

- GS Nguyễn Văn Hồng: Sản Phụ Khoa.

- GS Lê Quốc Hanh: Nội Khoa.


 

Hội Đồng Khoa họp buổi họp đầu tiên tại Chicago, tháng 9 năm 1975. Trong thời điểm đó, liên lạc ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam hoàn toàn bị cắt đứt. Các bác sĩ và sinh viên y khoa Việt ở Mỹ không thể nào có được những giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ học tŕnh và học bạ cần thiết của trường YKDHS để nộp cho các cơ sở Mỹ. V́ vậy, HĐK đă quyết định là sẽ đứng ra đảm nhiệm việc cấp giấy chứng nhận cũng như cấp phát văn bằng cho các sinh viên và bác sĩ của YKDHS cũ hiện đang ở quốc ngoại.


 

Trong buổi họp kể trên, HĐK đă chứng nhận và cấp phát 122 Chứng chỉ thay thế cho văn bằng Y Khoa Bác sĩ (Certificate in lieu of Diploma). Sự chứng nhận này được căn cứ trên những giấy tờ h́nh ảnh mà các đương sự mang theo được, những chứng nhận (affidavit) của các bạn bè cùng lớp hoặc cùng nơi hành nghề, và những tài liệu đă được in thành sách như Danh sách luận án, danh sách Y Sĩ Đoàn, v.v.. Nhờ sự ủng hộ của hiệp hội AMA, văn bằng của HĐK đă được các tiểu bang Mỹ công nhận là có giá trị tương đương như các văn bằng của các trường Y khoa khác, và có đầy đủ giá trị để có thể được thâu nhận vào các chương tŕnh huấn luyện hậu đại học.

Sau gần 25 năm hoạt động, HĐK đă cấp phát được tất cả 1261 văn băng. Trừ một số nhỏ đă xuất thân từ Y Khoa Đại Học Hà Nội, hầu hết các thụ đắc viên văn bằng này đều là sinh viên của Y Khoa Đại Học Sài G̣n. Đa số các thụ đắc viên đều cư ngụ tại Mỹ. Tuy nhiên một số văn bằng cũng được cấp phát cho các bác sĩ cư ngụ ngoài nước Mỹ. Bảng danh sách sau đây liệt kê các quốc gia và số văn bằng đă cấp phát tại quốc gia đó:

- Hoa kỳ: 1167 văn bằng

- Gia Nă Đại: 48 văn bằng

- Pháp quốc: 18 văn bằng

- Úc Châu: 17 văn bằng

- Bỉ quốc: 5 văn bằng

- Anh quốc: 2 văn bằng

- Tây Đức, Ḥa Lan, Thụy Sĩ và Do Thái: 1 văn bằng cho mỗi nước.

Ngoài văn bằng kể trên, các thành viên HĐK cũng c̣n kư rất nhiều giấy giới thiệu cho các sinh viên cũng như bác sĩ để giúp họ t́m nơi học tập hoặc huấn luyện.


 

Kể từ 1995, số bác sĩ Việt Nam di cư qua Mỹ càng ngày càng giảm. Cộng thêm với việc tái thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt, các bác sĩ Việt ở ngoại quốc có thể trực tiếp xin chứng chỉ học tŕnh và phó bản văn bằng từ Sài G̣n, nên hoạt động của HĐK cũng giảm dần. Văn bằng sau cùng được cấp phát vào tháng 3 năm 1998. Cho tới năm nay, năm 2002, các thành viên của HĐK đều đă về hưu, các thụ đắc viên văn bằng của HĐK cũng đều an cư lạc nghiệp trong nghề của ḿnh, nhiệm kỳ của HĐK thiết tưởng cũng đă chấm dứt một cách bán chính thức. Có c̣n chăng chỉ là những chứng chỉ thay thế văn bằng do HĐK đă cấp phát, như để đánh dấu những hoạt động trong quăng thời gian trên một phần tư thế kỷ của cộng đồng YKDHS tại hải ngoại.


 


 

Kết luận.

Như trên đă tŕnh bầy, tổng số bác sĩ tŕnh luận án ra trường tại YKDHS từ 1947 tới 1975 là 2380 người. Trong khi đó, số chứng chỉ thay thế văn bằng do HĐK lưu vong cấp phát là 1261. Như vậy có nghĩa là hơn nửa số bác sĩ Việt Nam ra trường trrước năm 1975 tại YKDHS đă di tản ra ngoại quốc. Nếu kể thêm cả những bác sĩ đă ra ngoại quốc mà không hành nghề, và những người đă mất đi trong cuộc chiến hay trong những trại cải tạo, th́ số bác sĩ c̣n lại ở Việt Nam chỉ vào khoảng trên dưới một phần ba tổng số ra trường mà thôi.

Nh́n lại quăng đường đă đi qua sau 25 năm hoạt động, HĐK lưu vong đă đạt được một kết quả không nhỏ trong công cuộc hỗ trợ các bác sĩ và sinh viên y khoa Việt Nam để họ có thể trở lại với nghề mà ḿnh đă lựa chọn. Phần đông các sinh viên y khoa đă tiếp tục học lại tại các Y khoa Đại Học Mỹ và đă ra trường, và hầu hết các bác sĩ Việt tại Mỹ cũng như tại các nước khác đă có một chỗ đứng vững chắc trên phương diện nghề nghiệp. Phần lớn thành quả này tất nhiên là do sự cố gắng không ngừng của các đương sự, nhưng phần nhỏ cũng là một niềm an ủi cho các thành viên HĐK đă không uổng công trong công việc yểm trợ các đồng nghiệp và dẫn dắt đàn em trong những ngày đầu tiên nơi xứ lạ.


Tất cả những điều ghi nhận trên đây nay đă đi vào dĩ văng. 

Trường YKDHH đă di chuyển ra chỗ khác. Ngôi trường cũ nay là Đại học Dược và chỉ c̣n một bộ môn Y khoa ở lại là bộ môn Kư sinh trùng. Năm 2000, tôi có dịp ghé thăm trường, và trong khu Kư sinh trùng, vẫn thấy c̣n chiếc bàn giấy cũ kỹ nhưng đồ sộ của cựu Khoa trưởng GS Galliard của những thập niên xa xưa. Và ở Institut du Radium của bà Marie Curie (nay là bịnh viện K) vẫn thấy những tủ đựng “lames” cũ kỹ từ thời GS Vũ Công Ḥe (của những buổi thực tập Mô học không bao giờ quên được) và chiếc đèn treo trên trần nhà bằng đồng đen thực đồ sộ đă nổi tiếng từ thời bà Curie.

 

Trường YKDHS nay đă đổi tên là trường Đại Học Y Dược thành phố HCM. Trường sở vẫn c̣n như cũ, tuy có xây thêm vài cơ sở phụ thuộc. Đại giảng đường, hồ nước bên quán ăn không thay đổi. Số sinh viên mỗi lớp vào khoảng 200 người. Chương tŕnh học thay đổi nhiều với những môn Chính trị học, Đông y, Dược thảo, Châm cứu, v.v... Sách vở sinh viên sử dụng là những sách do ban giảng huấn viết bằng tiếng Việt cho từng bộ môn. Ngay cổng vào có một quán bán sách y khoa, phần lớn sách bày bán là sách bằng tiếng Việt. Tháng 10 năm 2000 khi tôi ghé thăm, một cuộc thi tuyển Nội trú đang tiến hành, làm tôi chợt nghĩ tới năm 1970 khi mà vấn đề Nội trú đă là đề tài cho những cuộc biểu t́nh liên miên của sinh viên y khoa thời đó. Tôi có cảm tưởng là đă quay được một ṿng 360 độ và đă trở về vị trí cũ.

Xem thêm: